Buộc phải chịu thử thách là gì? Chế độ thử thách của án treo trong Luật Hình sự Việt Nam

11:28 - 10/07/2021 Pháp luật

Án treo thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật hình sự của nước ta, thấy được yếu tố khoan hồng cũng như giáo dục nhân văn. Tuy nhiên bản chất là một hình phạt nên vẫn cần có tính nghiêm khắc và răn đe, đồng thời cũng cần sự giám sát, quản lý của cơ quan, tổ chức để phòng ngừa nguy hiểm cho cộng đồng. Chính vì vậy pháp luật hình sự đã quy định khi người phạm tội đủ điều kiện hưởng án treo thì buộc phải ấn định thời gian thử thách kèm theo và thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Trong bài viết dưới đây, Công ty tư vấn luật Innosight sẽ làm rõ vấn đề buộc phải chịu thử thách là gì? Chế độ thử thách của án treo trong Luật Hình sự Việt Nam hiện hành.

Buộc phải chịu thử thách được hiểu như thế nào?

Chế độ thử thách của án treo có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh nhằm phòng chống tội phạm, khuyến khích người bị kết án lao động cải tạo trở lại làm công dân có ích trong một thời gian thử thách dưới sự giám sát của cơ quan chức năng và nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng.

Theo pháp luật hình sự buộc phải chịu thử thách được hiểu là biện pháp cưỡng chế bắt buộc người phạm tội phải chấp hành các nghĩa vụ học tập, lao động dưới sự giáo dục, giám sát của cơ quan, tổ chức và chính quyền cơ sở được toà án giao trách nhiệm. Đây là biện pháp được áp dụng đối với người phạm tội là người chưa thành niên để thay thế cho hình phạt và đối với người bị xử phạt tù có thời hạn nhưng được hưởng án treo.

Chế độ thử thách của án treo trong Luật Hình sự Việt Nam hiện nay

Chế độ thử thách của án treo cơ bản được hiểu là người bị án treo sẽ phải chấp hành thời gian thử thách nhất định từ 01 năm đến 05 năm và bao giờ thời gian thử thách cũng phải lớn hơn thời gian phạt tù. Người chịu án treo trong thời gian thử thách phải chịu sự giám sát giáo dục của cơ quan, tổ chức được Toà án giao trách nhiệm giáo dục, giám sát. Nếu người bị án treo trong thời gian thử thách nếu phạm tội mới thì biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù bị xoá bỏ, người bị án treo buộc phải chấp hành hình phạt tù được nêu trong bản án cho hưởng án treo trước đó, cùng với hình phạt của bản án về tội phạm mới thực hiện. Chế độ này được pháp luật quy định cụ thể như sau:

Thứ nhất về điều kiện được hưởng

Dựa vào việc áp dụng Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP tại điều 2 hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo quy định người bị kết án phạt tù được hưởng án treo khi có đầy đủ các điều kiện dưới đây:

– Bị phạt tù không quá 03 năm;

– Cá nhân có nhân thân tốt. Có nhân thân tốt được hiểu là nếu ngoài phạm tội lần này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú, làm việc. Đối với trường hợp người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích; người bị kết án đã được xoá án tích; hay người bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới thực hiện thuộc loại tội ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm với vai trò không đáng kể trong vụ án; đồng thời có đầy đủ các điều kiện khác thì có thể cho hưởng án treo;

– Người phạm tội có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (BLHS), sửa đổi bổ sung 2017 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định dựa trên khoản 1 Điều 52 BLHS. Nếu trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên; trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS.

– Người có nơi cư trú hoặc nơi làm việc rõ ràng, ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Nơi cư trú rõ ràng là nơi thường trú hoặc tạm trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo sinh sống, cư trú thường xuyên sau khi được hưởng án treo. Ngoài ra nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo quyết định của cơ quan tổ chức có thẩm quyền hoặc theo hợp đồng lao động.

– Xét thấy không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây ảnh hưởng và nguy hiểm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

Thứ hai về thử thách khi hưởng án treo

Thời gian thử thách của án treo là thời gian Tòa án ấn định để thử thách người bị kết án được hưởng án treo, hết thời gian thử thách mà người bị kết án không phạm tội mới thì hình phạt tù Toà án quyết định cho người bị kết án sẽ không phải thi hành. Còn ngược lại, trong thời gian đó người bị kết án phạm tội mới thì người bị kết án không những phải chấp hành hình phạt đối với tội phạm mới tội mới mà còn phải chấp hành hình phạt tù mà Toà án đã cho họ hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 60 BLHS, thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo là từ 01 năm đến 05 năm, không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm, đặc biệt là không được miễn thời gian thử thách. Nếu theo quy định này thì người bị phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm, Toà án có thể đưa ra thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm mà không bị ràng buộc bởi tỷ lệ bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm tù  sẽ bị thử thách bao nhiêu năm, mà người phạm tội có thể chỉ bị phạt 03 tháng tù nhưng có thể bị thử thách 05 năm; và ngược lại người phạm tội bị xử phạt 03 năm tù nhưng chỉ thử thách một năm. Dựa trên thực tiễn xét xử, các Toà án thông thường ấn định thời gian thử thách gấp đôi thời gian hình phạt tù

Thứ ba trường hợp được rút ngắn thời hạn thử thách

Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách là một trong những điểm mới được quy định tại Luật Thi hành án hình sự 2019. Các điều kiện để người được hưởng án treo được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách như sau:

– Đã chấp hành ½ thời gian thử thách;

– Người được hưởng án treo trong thời gian thử thách đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, các nghĩa vụ theo quy định; tích cực học tập, sửa chữa lỗi lầm, lao động hoặc lập thành tích trong lao động, bảo vệ trật tự an ninh, được cơ quan nhà nước khen thưởng.

– Người hưởng án treo chỉ được xét rút ngắn thời gian thử thách mỗi

 năm 01 lần, mỗi lần từ 01 tháng đến 01 năm. Trong trường hợp thời gian thử thách còn lại không quá 01 tháng thì được rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại. Ngoài ra người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, tuy nhiên phải bảo đảm thực tế đã chấp hành ¾ thời gian thử thách.

– Đối với trường hợp người được hưởng án treo lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện quy định thì Toà án có thể rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại. Trường hợp người được hưởng án treo đã rút ngắn thời hạn thử thách nhưng sau đó lại vi phạm và bị Toà án quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì thời gian thử thách được rút ngắn không được tính để trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Thứ tư về nghĩa vụ của người hưởng án treo trong chế độ thử thách

Dựa vào quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự 2019 (Luật THAHS), người được hưởng án treo có các nghĩa vụ cụ thể sau:

– Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật THAHS

– Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân quy chế, nội dung của nơi cư trú, học lập, làm việc; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

– Người được hưởng án treo chịu sự giám sát, giáo dục của Uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giáo dục, giám sát, coq quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, làm việc.

– Có mặt theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giáo dục, giám sát, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cấp quân khu.

– Hàng tháng phải báo cáo bằng văn bản cho Uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của người hưởng án treo. Trong trường hợp vắng mặt theo quy định tại Khoản 1 Điều 92 Luật này thì hết thời gian vắng mặt, người được hưởng án treo phải báo cáo tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.

Thứ năm về trách nhiệm giám sát, giáo dục đối với người được hưởng án treo đang trong chế độ thử thách

Trách nhiệm giám sát, giáo dục của các cơ quan, tổ chức, gia đình đối với người được hưởng án treo theo quy định pháp luật, cụ thể:

– Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm, có liên quan phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội trong việc giáo dục, giám sát người được hưởng án treo.

– Gia đình người được hưởng án treo cần có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, thông báo kết quả và giáo dục người được hưởng án treo cho Uỷ ban nhân dân cấp xã được giao giáo dục, giám sát khi có yêu cầu; phải có mặt trong cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân xã, đơn vị quân đội được giao giám sát.

      Trên đây là những nội dung trả lời cho câu hỏi “Buộc phải chịu thử thách là gì? Chế độ thử thách của án treo trong Luật Hình sự Việt Nam” mà Innosight Law chúng tôi cung cấp tới quý khách hàng. Có thể nói quy định về thời gian buộc thử thách của pháp luật hình sự vừa thể hiện tính nhân văn, khoan hồng đối với những người phạm tội hình sự, đồng thời là lời răn đe, cảnh tỉnh cho chính họ không tái vi phạm. Hi vọng qua những chia sẻ của chúng tôi, quý độc giả sẽ có cái nhìn rõ nét hơn về chế độ buộc thử thách. Trong trường hợp quý độc giả có bất cứ vấn đề gì về pháp lý nói chung và pháp luật hình sự nói riêng cần được tư vấn, chúng tôi vô cùng hân hạnh được giải đáp.